Nhạc Jazz Là Gì

  -  

Nhạc Jazz là gì? Tuy dòng nhạc Jazz tuy mang đậm tính nghệ sĩ, không quá dễ nghe và cũng không được quá nhiều người thích. Thế nhưng, nhạc Jazz được biết đến là một trong những dòng nhạc kinh điển nhất thế giới với âm hưởng sâu lắng và đem lại cảm giác tự do cho người nghe. Vậy Nhạc Jazz là gì? Dòng nhạc này có những đặc điểm nổi bật nào? Hãy cùng chamichi.com.vn tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Bạn đang xem: Nhạc jazz là gì

1. Nhạc Jazz là gì?

*

Nhạc Jazz là gì? Jazz là một thể loại âm nhạc có nguồn gốc từ cộng đồng người châu Phi ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ IXX và đầu thế kỷ XX. Jazz nổi lên như một hiện tượng ở nhiều nơi trên nước Mỹ với phong cách âm nhạc độc lập phổ biến vào thời đó; liên kết nhờ vào kết nối chung giữa âm nhạc Mỹ gốc Phi và âm nhạc Mỹ gốc châu Âu với một xu hướng thiên về biểu diễn.

Jazz có lịch sử kéo dài hơn 100 năm, từ thời kỳ ragtime tới ngày nay, và rất khó để mà có thể định nghĩa được một cách hoàn hảo. Jazz thường ứng tác, sử dụng nốt swing, nhấn lệch (syncopation) và polyrhythm (phức điệu) cũng như các khía cạnh của âm nhạc đại chúng nước Mỹ, hòa âm châu Âu và những yếu tố âm nhạc châu Phi như nốt ragtime và blue.


2. Những đặc điểm nổi bật của dòng nhạc Jazz

Ngẫu hứng và nghệ sĩ

*

Tác giả của dòng nhạc Jazz có thể ngẫu hứng sáng tạo ra các chủ đề. Những nghệ sĩ chơi có thể ngẫu hứng ra bài hát trên nền chủ đề có sẵn theo phong cách riêng để hoàn thiện hơn bài hát và mang đậm màu sắc của mình.

Việc sáng tác các bài hát hầu hết được gắn liền cùng với người nghệ sĩ biểu diễn. Do đó, đặc trưng của Jazz là sự ứng tấu ngẫu nhiên của các nghệ sĩ nhạc.

Nhạc Jazz giống với nhạc cổ điển ở chỗ là lúc bắt đầu biểu diễn sẽ thể hiện theo đúng chủ đề. Khác nhau ở chỗ, nhạc cổ điển phải theo đúng với quy tắc được xác lập bởi nhạc sĩ. Còn nhạc Jazz lại là sự ngẫu hứng của nghệ sĩ nên có khi cùng một bài nhạc lại mang đến những màn trình diễn lại khác nhau.

Giai điệu nhạc Jazz mang tính đặc trưng riêng

Được xây dựng trên thang âm có các “blue notes”. Tức là nốt ở quãng ba và nốt ở quãng bảy của thang âm sẽ bị giảm hơn về độ cao.

Kỹ thuật dùng nhạc cụ bắt nguồn trực tiếp từ phong cách hát của người da đen. Các nhạc công sẽ sáng tạo ra loại kỹ thuật làm các nhạc cụ vang lên như giọng người. Cụ thể như đưa những nốt hóa, nốt hoa mỹ, nốt Blues, glissando và vibrato.

Khi thưởng thức nhạc Jazz, chúng ta sẽ luôn cảm nhận được sự khác lạ, mới mẻ về hòa thanh, giai điệu, tiết tấu cũng như cách thể hiện. Ở Jazz, giai điệu là đa màu sắc, thể hiện được sự tự do trong âm nhạc. Mỗi bài hát của các nghệ sĩ sẽ có dấu ấn và màu sắc riêng, không ai giống ai.

Tiết tấu của nhạc Jazz

Nhạc Jazz có tiết tấu hoàn toàn khác biệt so với nhạc cổ điển. Tiết tấu cổ điển là dạng không đòi hỏi quá phức tạp, chỉ cần nghe thuận tai và chú trọng phần kĩ thuật chạy ngón. Còn riêng tiết tấu nhạc Jazz những tiết tấu đảo phách, nghịch phách, giật lại rất chú trọng. Đây chính là điểm khác biệt giúp Jazz không bị nhầm lẫn so với bất kỳ dòng nhạc nào.

Tiết tấu đặc thù của nhạc Jazz: Tiết nhịp 2 phách trong hành khúc nhà binh sẽ được thay bằng nhịp 4 phách và nhấn mạnh ở phách 2, 4 trong ô nhịp.

Hòa thanh trong nhạc Jazz

Hòa thanh trong Jazz sẽ tạo giai điệu, cấu trúc rõ ràng và bản nhạc có màu sắc riêng. Vòng hòa thanh của Jazz phức tạp hơn nhiều so với các quy luật cổ điển.

Hợp âm được dùng đặc trưng nhất của Jazz là giảm, tăng, hợp âm 7 và hợp âm thêm những âm ngoài hợp âm, ví dụ như âm 13, 11 và 9.

Hòa thanh của Jazz sẽ được chuyển liên tiếp từ ô nhịp này sang ô nhịp khác cùng với các hòa thanh khác nhau. Do đó, mỗi ô nhịp sẽ được xem là một hòa thanh.

Loại hòa thanh kết đặc trưng của nhạc Jazz chính là bậc II, V và I. Trong khi hòa thanh kết truyền thống lại là IV, V và I. Đây là sự khác biệt vô cùng rõ rệt của hòa thanh Jazz so với truyền thống.

Jazz là dòng nhạc đa màu sắc nên các nghệ sĩ chơi Jazz sẽ giảm, tăng hợp âm, ngẫu hứng dùng những vòng hòa thanh. Nhờ đó mà sẽ đem đến cho khán giả cảm giác mới lạ, hay. Điều vô cùng quan trọng là vòng hòa thanh không được lạc đi quá xa so với chủ đề của bản nhạc.

Nhạc cụ để chơi Jazz

Những loại nhạc cụ chơi Jazz là của châu Âu và phong cách diễn tấu thì lại mang phong cách của Mỹ. Chúng gồm có:

Bộ trống, những nhạc cụ gõ.Kèn trumpet, Saxophone, clarinette, trombone, cornet.Những nhạc cụ khác: Piano, guitar, banjo, contrebass.

Phong cách thể hiện của dòng nhạc Jazz giống với Blues là đều bắt nguồn từ những bản hợp xướng, những bài ca tôn giáo của đạo Tin Lành.

3. Những thể loại nhạc Jazz theo từng giai đoạn

Blues (xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ 19 đến nay)

Giống với jazz, blues bắt đầu xuất hiện từ khoảng thế kỷ IXX và được ngân nga bởi những người nô lệ, và sau đó là nông dân, khi họ đang làm việc trên những cánh đồng cháy nắng. Khi người Nam Mỹ học chơi những nhạc cụ châu Âu, cây đàn guitar lại trở thành nhạc cụ thông dụng nhất. Người ta thường hát ngêu ngao những khi rảnh rỗi với cây guitar, và từ đó nhạc blues ra đời. Phong cách chung của nhạc blues là luôn đánh theo những quy cách cố định, cũng như mang đặc trưng riêng với nốt trầm gọi là “blue note”, đem lại cảm xúc buồn man mác khó tả.


Nhạc blues phát triển song song cùng với nhạc jazz trong khoảng thời gian cuối thế kỷ IXX đến đầu thế kỷ XX, và lúc đó những nghệ sỹ jazz cũng thường dùng các đặc điểm của blues để pha trộn vào phong cách jazz của mình để tạo ra sự mới lạ.

Những nghệ sỹ jazz-blues nổi bật có thể nhắc đến như Huddie “Lead Belly” Leadbetter, W.C. Handy hay Bessie Smith.

*

Ragtime (khoảng 1895~1918)

Ragtime cũng là tiền thân của jazz hiện nay, được chơi chủ yếu bằng piano thế nhưng đôi lúc cũng được thể hiện bởi những nhạc cụ khác. Ragtime có cách thể hiện súc tích, ngắn gọn, tạo nên sự độc đáo khó đoán trước. Những kỹ thuật piano ragtime sau đó cũng có tác động rất lớn đến kỹ thuật chơi piano jazz.

Xem thêm: Những Cái Tên Độc Trong Game Hay Độc Lạ & Chất Nhất Hiện Nay 2022

Bạn có thể tìm kiếm những tác phẩm của Scott Joplin để thưởng thức phong cách piano ragtime nguyên bản như The Entertainer hay Maple Leaf Rag.

New Orleans Jazz (khoảng từ 1900~1920)

New Orleans Jazz bắt nguồn từ phong cách chơi mới lạ của những ban nhạc mới xuất hiện thời đó ở New Orleans. Những nhạc cụ như cornet (giống kèn trumpet) được dùng thường xuyên trong New Orleans Jazz. New Orleans Jazz sau đó cũng chịu tác động của ragtime (xuất hiện cùng thời nhưng được yêu thích hơn) và bắt đầu chuyển sang phong cách chơi tương tự. Nó chỉ khác biệt ở điểm là đôi khi được điểm thêm một chút chất blues.

New Orleans Jazz được thể hiện với tiếng đàn string bass, banjo, piano, drums và một vài nhạc cụ cổ điển khác. Những ban nhạc New Orleans cũng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, và cũng không có nhiều nghệ sỹ solo hay tác phẩm nào nổi bật, do đó nó ít được biết đến hơn những phân nhánh khác.

Bạn có thể tìm nghe Joe “King” Oliver, Buddy Bolden, The Original Dixieland Jass Band hay Jelly Roll Morton để nghe thử phong cách New Orleans Jazz.

Swing / Big Band Era (khoảng từ năm 1930~1945)

Từ những năm 1930, nhạc jazz vô cùng được yêu thích bởi một vài tầng lớp trung lưu người Mỹ do có sự kết nối sâu sắc với văn hóa Mỹ gốc Phi. Big Band Era ra đời với những ban nhạc có số lượng nhạc công hùng hậu, bắt đầu từ thời kỳ Great Depression làm cho nhiều nhạc công jazz mất việc và phải tập hợp lại thành các nhóm lớn để kiếm sống và theo đuổi đam mê.

Khác với những kiểu chơi nhanh gọn trước đó, những nhóm trong thời kỳ Big Band Era chơi nhạc một cách phiêu và thoáng hơn. Kiểu chơi này chính là nhạc swing, một kiểu nhạc dance có tác động đến nhiều phân nhánh nhạc dance xuất hiện sau nó.

Các nhóm Big Band Era dần tan rã sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 vì kinh tế bắt đầu phục hồi và việc duy trì nhóm lớn lúc đó sẽ tốn khá nhiều chi phí. Nhạc swing cũng bị quên lãng từ đó.

Bạn có thể tìm hiểu thêm một vài tên tuổi như Benny Goodman, Fletcher Henderson, Duke Ellington, Count Basie và Cab Calloway.

*

Bebop (khoảng từ 1939~1950)

Bebop xuất hiện vào khoảng đầu những năm 1940, bắt nguồn từ việc giới nghệ sỹ trẻ cùng nhau tập luyện trong các jam-session, cùng lúc thử nghiệm và chơi chung các phong cách mới. Những nghệ sỹ phong cách bebop tận dụng lối chơi nhạc cụ theo từng lượt và chú trọng đến phần biểu diễn solo. Phần tempo cũng được tăng lên làm cho tiết tấu tác phẩm nhanh hơn và có phần hơi “loạn”, ngược lại hoàn toàn với kiểu dance hay nhún nhảy của thời Big Band Era.

Những nghệ sỹ nổi bật gồm Charlie Parker, Coleman Hawkins, Thelonious Monk, Dizzy Gillespie, Bud Powell, Max Roach.

Cool (trong khoảng năm 1949~1955)

Cool Jazz trái ngược hoàn toàn với Bebop với tiết tấu thư giãn chứ hoàn toàn không gấp gáp khiến cho người nghe hụt hơi. Những nhạc công giảm tiết tấu của tác phẩm và chú trọng hơn vào giai điệu và dùng thêm những nhạc cụ cổ điển. Cool jazz có một thời gian được gọi là “West Coast Jazz”, thế nhưng người quen nghe jazz sẽ nhận ra các điểm khác biệt của hai phân nhánh này.

Những nghệ sỹ nên nghe như Dave Brubeck, Miles Davis, Chet Baker hay Gerry Mulligan.

*

Hard Bop (khoảng từ năm 1951~1958)

Trong giai đoạn này có nhiều nghệ sỹ jazz cảm thấy rằng Cool Jazz nghe có vẻ cổ điển và đậm chất châu Âu, vì vậy họ quyết định dung hợp lại phong cách Hard Bop vào nó. Hard Bop mang đến cho nhạc jazz chất blues nguyên bản, cộng với hơi hướng châu Phi. Phân nhánh này còn có một chút ảnh hưởng từ rhythm và gospel.

Đông đảo các nghệ sỹ nổi tiếng chọn và chuyển sang phong cách Hard Bop như Art Blakey, Miles Davis Quintet, Sonny Rollins, John Coltrane hay Horace Silver.

Modal (khoảng cuối những năm 1950)

Trong khi những tác phẩm Cool Jazz và Bebop được sáng tác và chơi theo quy tắc (progression) cố định nào đó thì Modal Jazz lại dựa trên những mode, khiến cho tác phẩm dễ nghe và cũng dễ chơi hơn. Bên cạnh đó, những mode trong Modal Jazz cũng chuyển biến rất chậm rãi chứ không phải gấp gáp như Bebop hay Cool Jazz. Những nghệ sỹ Modal Jazz cũng chỉ cần phải nghĩ cách hòa trộn 7 nốt trong mỗi mode nên sẽ dành nhiều thời gian hơn để sáng tạo ngẫu hứng.

Nối tiếng nhất với Modal Jazz là John Coltrane và Miles Davis.

Free Jazz (khoảng từ năm 1959~1970)

Những nghệ sỹ nhạc jazz luôn tìm cách “bứt phá” bản thân ra khỏi những rào cản âm nhạc, và Free Jazz chính là đỉnh điểm của điều này. Thay vì sáng tác theo những khuôn khổ có sẵn, Free Jazz hoàn toàn dựa trên âm nhạc, tức là chỉ cần nghe hay là được không cần phải theo đúng quy tắc gì cả. Free Jazz thường làm người nghe phải trầm trồ vì nó vượt xa toàn bộ các suy đoán của họ. Nó tương tự như sự trở lại của New Orleans Jazz – chất rượu tinh túy cũ trong một cái bình mới và đẹp mắt hơn.

Phân nhánh này nổi bật với Cecil Taylor, Ornette Coleman, John Coltrane và Charles Mingus.

Fusion (khoảng từ năm 1969~1990)

Sau hơn 3 thập kỷ khám phá những giới hạn của phong cách âm nhạc cấp tiến, những nghệ sỹ jazz của những năm 70 mang theo nhạc jazz tiếp cận với đại chúng bằng Fusion. Fusion là sự hòa trộn của jazz với những thể loại nhạc phổ biến, chủ yếu là funk và rock. Về phần trình bày, Fusion Jazz kết hợp âm điệu, sức mạnh và sự đơn giản của rock’n’roll với sự ngẫu hứng tinh tế có sẵn của jazz. Các thiết bị điện tử của nhạc funk và rock cũng đem lại cho jazz một âm thanh hoàn toàn mới.

Những nghệ sỹ đáng chú ý bao gồm Weather Report, Miles Davis, Chick Corea, Herbie Hancock và Freddie Hubbard.

Xem thêm: Tìm Hiểu Cách Chơi Bầu Cua Luôn Thắng, Trò Chơi Bầu Cua Tôm Cá Dưới Góc Độ Toán Học

Lời kết

Mỗi dòng nhạc sẽ có những điểm đặc trưng và những nét thu hút khác nhau. Tùy thuộc vào sở thích nghe nhạc của mỗi người mà độ yêu thích của họ với từng dòng nhạc cũng sẽ khác nhau. Hy vọng với những thông tin trên đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn nhạc Jazz là gì và thêm yêu thích dòng nhạc kinh điển nhất thế giới này.